Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U TINH HOÀN Ở TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Email In PDF.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U TINH HOÀN Ở TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Th.s Nguyễn Thị Mai Thủy*
Bs Phạm Tuấn Hùng- Bs Nguyễn Thọ Anh**
Tóm tắt
Tổng quan: Tổn thương mô bệnh học của u tinh hoàn ở trẻ nhỏ hay găp là u túi noãn hoàng và u quái trưởng thành. Định hướng được bản chất mô bệnh học của khối u cho phép phẫu thuật viên cắt tinh hoàn cùng thừng tinh hay chỉ cắt u bảo tồn tinh hoàn. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá đặc điểm lâm sàng của u tinh hoàn ở trẻ em dưới 6 tuổi được điều trị tại bệnh viện Nhi trung ương.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu hồi cứu 33 trường hợp trẻ dưới 6 tuổi được chẩn đoán u tinh hoàn từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 tại Bệnh viện Nhi trung ương. Tất cả các trường hợp đều được điều trị bằng phẫu thuật có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ.
Kết quả nghiên cứu: 33 trẻ (100%) được chẩn đoán u tinh hoàn do gia đình tự sờ thấy tinh hoàn to, không đau. Độ tuổi trung bình là 19 tháng (từ 4,5 tháng đến 72 tháng). Tất cả trẻ đều được siêu âm tinh hoàn và làm xét nghiệm αFP trước mổ. αFP cao trên 100UI/ml trong tất cả các trường hợp u túi noãn hoàng. Tất cả các trường hợp là u quái thì  αFP đều trong giới hạn bình thường. Đường rạch da tại bìu chiếm 66,7 % và tại nếp bẹn bụng chiếm 33,3%.Tỷ lệ cắt tinh hoàn có u chiếm 60,6 %; cắt u bảo tồn tinh hoàn chiếm 39,4%. Có làm sinh thiết lạnh trong mổ là 27,3 %. Kết quả sinh thiết trong mổ: u túi noãn hoàng chiếm 44,4 % , teratoma trưởng thành chiếm 55,6 %. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ: u túi noãn hoàng 45,5%, teratoma 51,5% và 3% là các loại u khác. Không có trường hợp nào có biến chứng sau mổ.
Kết luận: U tinh hoàn thường gặp nhất là u túi noàn hoàng và u quái. αFP có giá trị trong chẩn đoán phân biệt giữa u túi noãn hoàng với u quái. Cắt u bảo tồn tinh hoàn nếu tổn thương là u quái trưởng thành.. Với u túi noãn hoàng cần cắt toàn bộ tinh hoàn, thừng tinh. 
Abstract
Purpose:Pathologyof testicular tumoursinchildren is mostly yolk sac tumour and mature teratoma tumour.  The pathologyof testicular tumours guide the surgeon to perform orchidectomy by inguinal incision orresection the tumour and testicular conservation by scrotal incision. The aim of this study is to present the clinical features and pathology findings of testicular tumoursinchildren under 6 years operated in our hospital.
Patients and Methods: We retrospectively reviewed 33 patient’s records of testicular tumoursoperated in our hospital from 1/2012 to 12/2013. All cases had pathology result.
Results: The initial symptoms of 33 cases is painless of scrotal mass. Mean age ranged from 4.5 months to 72 months (9 months on average). Ultrasound of testis and αFP dosage were done before operation. For all the patients of yolk sac tumour, αFP dosage is more than 100UI/ml. For all the patients ofteratoma tumourαFP dosage is normal. 66.7% patients had scrotal incision and 33.3% had inguinal incision. 60.6% patients had orchidectomy, and 39.4% had resection the tumour and testicular conservation.The intraoperative frozen biopsy was carried out in 27.3%. and the result consist of 44.4%yolk sac tumour, 55.6% mature teratoma tumour. Postoperative pathologyresult of testicular tumours: 45.5% yolk sac tumour, 51.3% teratoma tumour, 3% other. No operative complication.
Conclusion:  The most popular pathology of testicular tumoursinchildren is yolk sac tumour and mature teratoma tumour. αFP dosage is important to identify.  Orchidectomy by inguinalfor yolk sac tumour and resection the tumour and testicular conservation by scrotal incisionshould be done.
Đặt vấn đề: U tinh hoàn ở trẻ em có tỷ lệ 0,5 – 2:100000, chiếm tỷ lệ khoảng 1%-2% trong tất cả các loại u ở trẻ nhỏ [1,6,5]. U tinh hoàn được phân ra 2 nhóm phụ thuộc nguồn gốc tế bào là u tế bào đệm và u tế bào mầm. Đa phần u tinh hoàn ở trẻ em có nguồn gốc từ tế bào mầm. Có 2 dạng tổn thương mô bệnh học thường gặp là u quái trưởng thành (Teratoma)- đây là tổn thương lành tính ; và u túi noãn hoàng – đây là tổn thương ác tính. Để hiểu thêm về đặc điểm lâm sàng, tổn thương giải phẫu bệnh của u tinh hoàn ở trẻ em dưới 6 tuổi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 33 trẻ được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tinh hoàn trong 2 năm tại Bệnh viện Nhi trung ương (từ 1/1/2012 đến 31/12/2013).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013, có 33 trường hợp trẻ dưới 6 tuổi được chẩn đoán u tinh hoàn và được phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi trung ương. Nghiên cứu hồi cứu các hồ sơ bệnh án để lấy các thông số về : triệu chứng lâm sàng, hình ảnh siêu âm trước mổ, xét nghiệm định lượng αFP, βHCG, cách thức phẫu thuật, tổn thương trong mổ và kết quả mô bệnh học sau mổ. Phân tích số liệu thống kê dựa vào phần mềm SPSS 16.0.
Kết quả nghiên cứu
Trong tổng số 33 trường hợp được chẩn đoán  xác định u tinh hoàn và được phẫu thuật,  17 trường hợp tổn thương mô bệnh học là teratoma và 15 trường hợp là u túi noãn hoàng, 1 trường hợp là u khác. Độ tuổi trung bình của trẻ khi được chẩn đoán là 19 tháng (từ 4,5 đến 72 tháng).
Trong 15 trường hợp trẻ được chẩn đoán xác định là u túi noãn hoàng, 13 trẻ (86,7%) có nồng độ αFP cao trên 100UI/ml, 2 trẻ (13,3%) có nông độ αFP dưới 100UI/ml. Chỉ có 2 trường hợp được xét nghiệm βHCG và giá trị đều dưới 1,2 mUI/ml.
αFP
Loại u
Trên 100 UI/ml
Dưới 100 UI/ml
Tổng số
U teratoma
0  ( 0%)
17  (100%)
17 (51,5%)
U túi noãn hoàng
13 (86,7%)
2   (13,3%)
15  (44,5%)
U khác
0   (0%)
1   (100%)
 1  (3%)
Tổng số
13 (39,4%)
20  (60,6%)
33  (100%)
 Bảng 1: Định lượng giá trị αFP trong u tinh hoàn ở trẻ dưới 6 tuổi
Trong 17 trường hợp trẻ được chẩn đoán xác định là teratoma thì định lượng αFP dao động trong khoảng từ 0,8 đến 62 UI/ml, trung bình là 16,7 UI/ml và 5 trường hợp được xét nghiệm βHCG (đều dưới 1,2 mUI/ml). Như vậy 100% các trường hợp tổn thương mô bệnh học là teratoma thì nồng độ αFP dưới 100 UI/ml.
Đường mổ
Loại u
Bẹn
Bìu
Tổng số
U teratoma
5 (29,4%)
12 (70,6%)
17 (50%)
U túi noãn hoàng
5 (33,3%)
10 (66,7%)
15 (44,1%)
U khác
0 (0%)
1 (100%)
1 (5,9%)
Tổng số
10 (33,3%)
23 (66,7%)
33 (100%)
Bảng 2:đường mổ trong phẫu thuật u tinh hoàn
Trong nhóm bệnh u túi noãn hoàng chỉ có 4 trường hợp được sinh thiết lạnh trong mổ chiếm 26,7%, 73,3% trường hợp không được sinh thiết lạnh trong mổ.Việc phẫu thuật đường bìu trong nhóm này chiếm tới 66,7%, 33,3% phẫu thuật đường bẹn.Tất cả các trường hợp đều có chỉ định cắt toàn bộ tinh hoàn và ống phúc tinh mạc ở bên có u.
Tỷ lệ sinh thiết trong mổ trong nhóm u quái chiếm tỷ lệ 29,4% và tỷ lệ phẫu thuật đường bìu chiếm 70,6%. Có 12 trường hợp mổ cắt u bảo tồn tinh hoàn và 5 trường hợp cắt tinh hoàn do phẫu thuật viên đáng giá khối u trong mổ không thể bảo tồn được phần tinh hoàn lành còn lại.
1 trường hợp chẩn đoán xác định là u tinh hoàn dạng xơ với xét nghiệm αFP trước mổ 1 UI/ml, bệnh nhân được phẫu thuật đường bìu để cắt u bảo tồn phần tinh hoàn
Bàn luận
U tinh hoàn ở trẻ dưới 6 tuổi đa phần lành tính, khác với lứa tuổi dậy thì và trưởng thành đa phần là ác tính [7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 51,5 % (17/33 bệnh nhi) là u quái (teratoma) trưởng thành, lành tính, 45,5% (15/33 bệnh nhi) là u túi noãn hoàng, 3% (1/33 bệnh nhi) là u có nguồn gốc không phải u tế bào mầm.
Đối với u túi noãn hoàng, lớp biểu mô lót mặt trong của nang và ống tuyến là nơi tổng hợp αFP. Chính vì vậy mà thường các u túi noãn hoàng sẽ có tình trạng tăng lượng αFP trong huyết thanh, điều này là rất quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi u tinh hoàn [4,8]. αFP xuất hiện từ trong thời kỳ bào thai do các tế bào gan tổng hợp nên, do vậy nó vẫn tiếp tục tăng kể từ khi đứa trẻ được sinh ra cho đến lúc 8 tháng tuổi (0-20ng/ml) và như vậy việc định lượng αFP trong thời kỳ này thường khó phân biệt được các khối u khác của tinh hoàn với u túi noãn hoàng. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu, nồng độ αFP tăng gặp trong 94,7% u túi noãn hoàng và 30,4% u u quái [6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, không gặp một trường hợp nào được chẩn đoán xác định là u quái mà có lượng αFP > 100UI/ml, ngược lại tất cả các trường hợp có tăng lượng αFP >100UI/ml đều được chẩn đoán sau mổ là u túi noãn hoàng. Tuy nhiên, trong nhóm bệnh nhân được chẩn đoán u túi noãn hoàng có 2 trường hợp αFP thấp dưới 100 UI/ml (13,3%). Như vây, trước 1 bệnh nhân có u tinh hoàn với nồng độ αFP cao trên 100 UI/ml, chúng ta hướng tới một khối u ác tính, mà hay gặp nhất là u túi noãn hoàng. Tuy vây, khi tỷ lê này dưới 100 UI/ml cũng không thể loại trừ đây là một khối u ác tính. Việc định lượng αFP còn giúp cho việc theo dõi tỷ lệ tái phát của u tinh hoàn sau phẫu thuật[2].
Trong nghiên cứu của chúng tôi đa phần đường mổ vẫn là đường rạch da tại bìu (66,7%). Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây đưa ra khuyến cáo trong các trường hợp u tinh hoàn nghi là u túi noãn hoàng thì cần phẫu thuật ở đường nếp bụng dưới để cắt tinh hoàn toàn bộ cùng với thừng tinh cao nhất có thể. Do đây là nghiên cứu hồi cứu nên có những hạn chế nhất định về số liệu nghiên cứu. Vấn đề theo dõi, đánh giá sự liên quan của đường mổ với nguy cơ tái phát trong trường hợp u ác tính còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Trường hợp u quái tinh hoàn hầu hết là dạng trưởng thành lành tính và đều có chỉ định phẫu thuật cắt u bảo tồn tinh hoàn nếu có thể được [3]. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 17 trường hợp u quái tinh hoàn thì có 12 trường hợp cắt u bảo tồn tinh hoàn phần lành và 5 trường hợp cắt tinh hoàn. Trong 5 trường hợp cắt tinh hoàn thì các phẫu thuật viên mô tả trong mổ là u quá to chiếm hết tổ chức lành và không thể giữ lại được phần nhu mô lành.Trong nhóm này, tỷ lệ đường rạch da tại bìu chiếm 70,6%, còn lại là 29,4% rạch da nếp bụng dưới. Chúng tôi cũng nhận thấy việc sử dụng đường rạch da ở nếp bẹn là không cần thiết đối với những trường hợp cắt u bảo tồn tinh hoàn. Nhiều trường hợp sau mổ tinh hoàn bị kéo lên cao do dây chằng bìu tinh hoàn bị tổn thương trong mổ.
Chúng tôi chỉ 1 trường hợp là u xơ tinh hoàn. Trường hợp này chúng tôi làm sinh thiết lạnh chẩn đoán trong mổ và có chỉ định cắt u bảo tồn phần tinh hoàn lành. Chúng tôi cho rằng sinh thiết trong mổ là cần thiết khi khó phân biệt giữa một tổn thương lành tính và ác tính.
Kết luận
U tinh hoàn ở trẻ dưới 6 tuổi thường gặp nhất là dạng u quái (teratoma) lành tính, tiếp sau đó là u túi noãn hoàng. Việc định lượng αFP, sinh thiết lạnh và đánh giá tổ chức u trong mổ là việc quan trong trong quyết định cắt u bảo tồn tinh hoàn lành hay cắt toàn bộ tinh hoàn. Đối với u quái thì đa phần là dạng trưởng thành, lành tính. Điều trị là phẫu thuật cắt u bảo tồn tinh hoàn, đường rạch da ở bìu. Ngược lại, với u túi noãn hoàng do nguy cơ ác tính cao, phẫu thuật đường bẹn để cắt toàn bộ tinh hoàn và thừng tinh là điều cần thiết.
Tài liệu tham khảo
 
1.                 Brosman SA. Testicular tumors in prepubertal children. Urology 1979;13:581–8.
2.                 Bryan J. Dicken and Deborah F. Billmire. Testicular tumors. Pediatric Surgery 7th Edition; 549 – 556.
3.                 Grady RW, Ross JH, Kay R. Epidemiological features of testicular teratoma in a prepubertal population. J Urol 1997;158:1191–2.
4.                 Homsy Y, Arrojo-Vila F, Khoriaty N, Demers J. Yolk sac tumor of the testicle: is retroperitoneal lymph node dissection necessary? J Urol1984;132:532–6.
5.                 Kaplan GW, Cromie WC, Kelalis PP, Silber I, Tank ES Jr. Prepubertal yolk sac testicular tumors—report of the testicular tumor registry. J Urol1988;140:1109–12.
6.                 Lee SD. Epidemiological and clinical behavior of prepubertal testicular tumors in Korea. J Urol 2004;172:674–8.
7.                 Reuter VE. Origins and molecular biology of testicular germ cell tumors. Mod Pathol 2005;18:S51–60.
8.                 Talerman A, Haije WG, Baggerman L. Serum alphafetoprotein (AFP) in patients with germ cell tumors of the gonads and extragonadal sites: correlation between endodermal sinus (yolk sac) tumor and raised serum AFP. Cancer 1980;46:380–5.
 
 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
You are here: Home Category Blog ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U TINH HOÀN Ở TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều