Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ LỒNG RUỘT HỒI CỨU ĐA TRUNG TÂM BỞI NHÓM NGHIÊN CỨU PHÁP VỀ PHẪU THUẬT NỘI SOI NHI

Email In

Arnaud Bonnard, Carla Dimitriu, Guillaume Podevin, Francois Varlet, Hossein Allal (France). Ivalis Valioulis (Greece). Mornique Demarche (Belgium).

Journal of Pediatric Surgery 2008 ;43 :1249-53

TÓM TẮT

Giới thiệu : Phẫu thuật được chỉ định điều trị lồng ruột khi tháo lồng bằng thụt qua hậu môn không kết quả. Một số báo cáo nêu lên ưu điểm của nội soi so với mổ mở, nhưng biến chứng như rách thanh mạc và thủng ruột cũng đã được mô tả.  Mục đích của chúng tôi là xác định chỉ định tốt nhất cho phẫu thuật nội soi điều trị lồng ruột

Bệnh nhân và phương pháp : Hồi cứu tất cả các bệnh nhân bị lồng ruội mà tháo lồng bằng thụt nước qua hậu môn không kết quả và được mổ nội soi ngay. Các ca được tập hợp từ 7 trung tâm phẫu thuật nhi giữa 1992 và 2005. Các dữ liệu được thu thập bao gồm tuổi, thời gian có triệu chứng, lâm sàng, chỗ lồng ruột sau khi thử tháo lồng bằng thụt nước, kiểu tiếp cận nội soi, thời gian mổ, chuyển mổ mở, nguyên nhân và biến chứng sau mổ. 2 nhóm được phân tích - chuyển mổ mở hay không.

Kết quả : 69 bệnh nhân (48 nam, 21 nữ) được nghiên cứu. Tổng có 22 bệnh nhân phải chuyển mổ mở (31,9%). 11 ca vì nội soi không thảo được khối lồng. Nguy cơ chuyển mổ mở liên quan trực tiếp đến thời gian từ khi có triệu chứng đến khi chẩn đoán (1,6 so với 3,1 ngày trong nhóm chuyển mổ mở, p = 0,048), dấu hiện viêm phúc mạc khi khám lâm sàng đầu tiên (10,6 % so với 41% ở nhóm chuyển mổ mở, p=0,003) và có sự hiện diện của bệnh lý gây nên lổng ruột (pathologic lead point) hay không (17% so với 50% ở nhóm chuyển mổ mở, p=0,004).

Kết luận : Trẻ mà được phát hiện lồng ruột sớm (<1,5 ngày) từ khi bắt đầu có triệu chứng và không có dấu hiệu viêm phúc mạc là có chỉ định tốt nhất cho tiếp cận nội soi nếu phải điều trị phẫu thuật. Cần phải rất chú ý để không bị sót bệnh lý gây nên lồng ruột, đặc biệt khi thiếu vai trò của xúc giác.

Phẫu thuật viên Nhi khoa thường được gọi xử trí bệnh nhân bị lồng ruột. Gần 85% trường hợp lồng ruột được tháo lồng bằng khí hoặc bằng nước có kết quả. Phẫu thuật được chỉ định khi tháo lồng thất bại. Đã có các bài báo đề cập đến phẫu thuật nội soi [1-3], nhưng biến chứng thì đã được miêu tả như màng ối dễ rách và thủng. Còn chưa có thống nhất cả về vai trò của phẫu thuật nội soi khi nghi ngờ có bệnh lý gây nên lồng ruột. Mục đích của chúng tôi là xác định  chỉ định tốt nhất cho phẫu thuật nội soi lồng ruột.

1.  Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu hồi cứu tất cả nhưng bệnh nhân bị lồng ruột mà tháo lồng không kết quả và phải phẫu thuật nội sôi cấp cứu. Các trường hợp được thu thập từ 7 trung tâm phẫu thuật nhi khoa (French study group of pediatric laparoscopy) từ năm 1992 đến năm 2005. Phẫu thuật viên là khác nhau (bác sĩ nội trú, thực tập sinh, phẫu thuật viên có kinh nghiệm). Số liệu được lựa chọn bao gồm tuổi, thời gian bị bệnh, triệu chứng khởi phát, mức độ lồng ruột sau khi tháo lồng bằng nước, loại phẫu thuật nội soi, thời gian mổ, chuyển sang mổ mở, nguyên nhân và biến chứng sau mổ.

Tháo lồng bằng nước được thực hiện với bác sĩ Xquang và bác sĩ phẫu thuật tại phòng can thiệp khoa Xquang. Tháo 2 – 3 lần phụ thuộc vào dấu hiệu lâm sàng lúc tháo. Trừ khi có dấu hiệu viêm phúc mạc ngay lúc đầu (biến chứng rõ ràng của lồng ruột), bệnh nhân được đưa thẳng đến phòng mổ mà không cần cố gắng tháo lồng bằng nước và sau khi được bù dịch.

Kĩ thuật đặt 3 Troca đã được sử dụng, Troca đầu tiên có camera đặt qua rốn (3-10 mm), troca 2 (3-5 mm) hố chậu trái hoặc trên xương mu. troca 3 (3-5 mm) ở sườn trái. Sơ đồ troca này tương ứng với vị trí khối lồng ở đại tràng lên.

                Chúng tôi tháo lồng dùng pince không chấn thương, kéo vào đầu lồng và khi có thể ấn từ phía ruột chứa đầu lồng (ngay phía sau đỉnh đầu lồng). Chuyển sang mổ mở khi có dấu hiệu hoại tử ruột hoặc nội soi tháo lồng thất bại. Khi có bệnh lý nguyên nhân gây lồng ruột, chuyển sang mổ mở phụ thuộc quyết định của phẫu thuật viên. Cắt ruột thừa theo ý muốn của phẫu thuật viên.

                Có 2 nhóm nghiên cứu: chuyển mổ mở hoặc không. Student’s t test và test cho dữ liệu không tham số được dùng  phân tích thống kê. P< .05 có ý nghĩa.

2.       Kết quả

2.1.   Bệnh nhân:
 Có 69 bệnh nhân (48 nam và 21 nữ) được nghiên cứu. Tuổi trung bình là 2.9 tuổi (Từ 0.3 – 14.8 tuổi).
Thời gian xuất hiện triệu chứng đến lúc được chẩn đoán là 2.1 ngày (Từ 0.5 – 15 ngày). 8 bệnh nhân
đã có ít nhất 1 lần bị lồng ruột và đã được tháo lồng bằng thụt nước. 14 bệnh nhân đã không tháo
bằng thụt nước vì có dấu hiệu viêm phúc mạc, 55 bệnh nhân đã được tháo bằng thụt nước trước.
Trong tổng số bệnh nhân đó có 22 bệnh nhân phải chuyển sang mổ mở (31.9%), 11 bệnh nhân
chuyển sang mổ mở do tháo lồng nội soi thất bại. Lí do chuyển mổ mở được trình bày tại bảng 1.

Bảng 1:  Lâm sàng và phẫu thuật

                                                       N = 69

Giới

Nam

 

48

 

Nữ

 

21

Tuổi tbình (năm)

 

2.9(0.3-14.8)

 

Số lần bị lồng ruột

0

 

31

 

1

 

1

 

>1

 

7

Tgian bị bệnh (ngày)

 

2.1(0.5-15)

 

Biến chứng

 

 

14

Tháo trước mổ

 

 

55

Mức độ LR

Hồi tràng

 

11

 

Hồi manh tràng

 

25

 

Đại tràng

 

19

Tự tháo

 

 

6(8.7%)

Chuyển mổ mở

 

 

22(31.9%)

 

Nội soi thất bại

 

11.9(15.9)

 

Nguyên nhân

 

4

 

Hoại tử ruột

 

4

 

Thủng ruột

 

1

 

Không chịu được bơm khí

 

2

Cắt ruột

 

 

17(24.6%)

Thời gian phẫu thuật

Tổng

 

51.8(30-120)

thuật (phút)

Không chuyển mổ mở

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 11:45 )  
You are here: Home NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Quốc tế CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ LỒNG RUỘT HỒI CỨU ĐA TRUNG TÂM BỞI NHÓM NGHIÊN CỨU PHÁP VỀ PHẪU THUẬT NỘI SOI NHI

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều