Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

Phẫu thuật nội soi - Chữa bệnh phình đại tràng bẩm sinh

Email In

MỔ CHỮA BỆNH PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH

BẰNG  PHẪU THUẬT NỘI SOI
 Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Đức Hậu
Purpose: The aim of this study was to present preliminary result in the treatment of Hirschsprung disease by laparoscopic-assisted endorectal colon pull-through.
 
Materials and methods: 54 patients were operated upon from January 2001- November 2003 at National hospital of Pediatrics. We used one camera port and two working ports. The sigmoid and rectum were mobilized laparoscopically. Rectal mucosectomy was carried out transanally. Colo-anal anastomosis was fashioned 1 cm above the dentate line according to Soave modified technique.
Results: 54 patients included 42 boys and 12 girls.  Ages ranged from 15 day to 36 months. Twenty eight patients have rectal aganglionosis and 26 patients have recto-sigmoid aganglionosis. Operative average time was 150 minutes. Conversion was realized in one patient. There were no complication and death. All patients could pass stool spontaneously before discharge.
 
Conclusion: Laparoscopic procedure can be performed safety, giving good results.             
I . ĐẶT VẤN ĐỀ

Cho đến nay nhiều kỹ thuật mổ và đường mổ đã được sử dụng để điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Các kỹ thuật quy ước qua đường bụng đã được sử dụng trong nhiều năm và gần đây phẫu thuật qua đường sau trực tràng hoặc qua hậu môn cũng đã được sử dụng (1, 2, 3, 4, 5). Phẫu thuật nội soi được sử dụng để điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh lần đầu tiên năm 1995 và đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi ( 6, 7, 8). Ở Việt nam chúng tôi bắt đầu sử dụng phương pháp này từ năm 1997 nhưng phải đến năm 2001 phẫu thuật nội soi mới được sử dụng thường quy để điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Mục đích của báo cáo này là nhằm trình bày kinh nghiệm và những kết quả bước đầu ứng dụng kỹ thuật nội soi trong điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

II. TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
II.1 Tư liệu

Bao gồm tất cả bệnh nhân bị phình đại tràng bẩm sinh được mổ bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 11 năm 2003 tại  Bệnh Viện Nhi trung ương. Chẩn đoán bệnh được xác định bằng sinh thiết trực tràng trong mổ.

II.2 Phương pháp nghiên cứu
Là nghiên cứu tiến cứu. Tất cả bệnh nhân đều được nghiên cứu theo một mẫu bệnh án thống nhất. Các thông tin nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, biểu hiện lâm sàng, vị trí vô hạch trên phim chụp đại tràng, vị trí vô hạch trong mổ, phươg pháp phẫu thuật, thời gian mổ, chiều dài doạn ruột cắt bỏ, biến chứng và tử vong sau mổ.Kỹ thuật mổ.
-  Bệnh nhân nằm ngửa có độn ở mông.
-  Phẫu thuật nội soi ổ bụng được tiến hành bằng 3 troca : một troca qua rốn để cho ống soi, 1 troca ở hố chậu phải và 1 troca ở hố chậu trái để cho dụng cụ. Áp lực ổ bụng để từ 60-100 mmHg tuỳ theo tuổi bệnh nhân. Tiến hành sinh thiết đại tràng ở vị trí trên quan sát cho là đại tràng bình thường và vị trí được cho là vô hạch. Cắt mạc treo xích ma, cắt một phần mạc treo đại tràng trái và động mạch xích ma. Bóc tách bóng trực tràng.
- Kết hợp phẫu tích bằng đường qua hậu môn. Rạch niêm mạc hậu môn trên đường răng lược 0,5 cm vòng quanh ống hậu môn. Tách niêm mạc khỏi cơ ống hậu môn lên trên dài khoảng 1,5 cm ở vị trí này cắt thành trực tràng để ra ngoài trực tràng. Giải phóng trực tràng cho đến khi thông với phía ổ bụng. Kéo đại tràng qua ống hậu môn. Cắt bỏ đại tràng vô hạch và đoạn đại tràng dãn. Nối đại tràng với ống hậu môn hai lớp. Để mỏm thừa đại tràng ra ngoài hậu môn và cắt thì hai nếu thấy miệng nối không an toàn. 
III . KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu đã có 54 bệnh nhân được phẫu thuật bằng phương pháp nội soi bao gồm 42 nam và 12 nữ. Tuổi nhỏ nhất là 15 tháng và cao nhất là 36 tháng. Phân bố tuổi được trình bày ở bảng 1:Bảng 1: Phân bố tuổi

Tuổi Số lượng %
15 ngày- 6 tháng 24 44, 4
7-12 tháng 12 22, 2
> 12 tháng 18 33, 4
Tổng số 54 100
Các triệu chứng lâm sàng bao gồm:
- Chậm ỉa phân su: 51 bệnh nhân
- Táo bón phải thụt tháo thường xuyên :   33 bệnh nhân
- Bụng chướng có quai ruột nổi : 54 bệnh nhân
- Viêm ruột trước mổ : 4  bệnh nhân
Vị trí vô hạch trong mổ chủ yếu là ở trực tràng và xích ma (bảng 2):
Bảng 2: Vị trí vô hạch
Vị trí vô hạch Số lượng %
Trực tràng 28 51,9
Trực tràng+Xích ma 25 46,3
Đại tràng trái 1 1,8
 Đoạn đại tràng cắt bỏ ngắn nhất là 10 cm dài nhất là 35 cm bao gồm:
- Từ 10-20 cm : 22 bệnh nhân
- Từ 21-35 cm:  32 bệnh nhân.
Phẫu thuật nội soi kết hợp với đường sau trực tràng cho 20 bệnh nhân và với đường qua hậu môn cho 33 bệnh nhân, 1 trường hợp phải mở bụng vì đoạn vô hạch chiếm hết đại tràng trái. Không có trường hợp nào phải truyền máu trong mổ.Khâu nối thì đầu được thực hiện ở 31 bệnh nhân, để mỏm thừa đại tràng và cắt bỏ sau 2 tuần thực hiện ở 23 bệnh nhân còn lại .Thời gian mổ ngắn nhất là 120 phút, dài nhất là 240 phút, trung bình là 150 phút. Các chỉ số mạch, huyết áp, bão hoà oxy ổn định trong suốt quá trình mổ ở tất cả bệnh nhân. Trong và sau mổ không có trường hợp nào tử vong, không có các tai biến và biến chứng sau mổ. Thời gian nằm viện ngắn nhất là 5 ngày , dài nhất là 9 ngày, trung bình là 7 ngày. Tất cả  bệnh nhân đã tự đi đại tiện trước khi xuất viện. 
IV BÀN LUẬN
Điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh bằng phẫu thuật nội soi mặc dù mới chỉ được bắt đầu từ năm 1995 nhưng đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi. So với phẫu thuật quy ước qua đường bụng phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm. Do không phải mở bụng nên  ruột non và thành bụng rất ít bị chấn thương vì vậy sau mổ hầu hết bệnh nhân không có tình trạng liệt ruột cơ năng thường gặp trong phẫu thuật quy ước. Trong nghiên cứu này không có bệnh nhân nào có biểu hiện bụng chướng và nôn ra dịch mật sau mổ. Phẫu thuật nội soi cũng tránh được các biến chứng kinh điển của phẫu thuật bụng như toác vết mổ và bục thành bụng. Sau mổ và thời gian nằm viện ngắn cũng là những ưu điểm của phẫu thuật nội soi. Trong nghiên cứu này để tránh 1 sẹo mổ do đặt troca chúng tôi đã đặt troca cho ống soi qua rốn thay vì đặt dưới hoặc trên rốn. Chúng tôi chỉ sử dụng 3 troca cho phẫu thuật tuy vậy trong các trường hợp này cần phải khâu treo bàng quang để tạo thuận lợi cho thì bóc tách bóng trực tràng. Gần đây chúng tôi sử dụng thêm một troca 3 mm để đưa dụng cụ vào kéo trực tràng vì vậy có thể thay thế cho việc khâu treo trực tràng. Trong phương pháp nội soi, các kỹ thuật mổ khác nhau như  Swenson, Soave, Du hamel đã được sử dụng. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật Soave cải tiến qua phẫu thuật nội soi. Kỹ thuật có thể thực hiện bằng phẫu thuật nội soi kết hợp với đường sau trực tràng hoặc phẫu thuật nội soi kết hợp với đường qua hậu môn. Phẫu thuật nội soi kết hợp với đường sau trực tràng có ưu điểm là thì bóc tách trực tràng tiến hành dễ dàng thuận lợi nhưng có nhược điểm là phải thay đổi tư thế bệnh nhân. Phẫu thuật nội soi kết hợp với đường qua hậu môn có ưu điểm là không phải thay đổi tư thế bệnh nhân nhưng thì phẫu tích trực tràng qua hậu môn phải tiến hành trên một phẫu trường khá hẹp. Khâu nối đại tràng với ống hậu môn ngay một thì hay nên để mỏm thừa  sau đó cắt mỏm thừa thì hai vẫn còn là một vấn đề chưa thống nhất. Trong nghiên cứu này 31 bệnh nhân được khâu nối ngay thì đầu không trường hợp nào bị rò miệng nối. Tuy vậy chúng tôi thấy khâu nối  thì đầu cũng chỉ nên áp dụng cho các trường hợp bệnh nhân có thể trạng tốt, đại tràng được thụt sạch và đường kính giữa đại tràng và ống hậu môn không quá chênh lệch. 
 
V. KẾT LUÂN. Kết quả thu được từ 54 bệnh nhân bị phình đại tràng bẩm sinh được phẫu thuật nội soi cho thấy đây là một phương pháp phẫu thuật an toàn và có nhiều ưu điểm.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1     Swenson O, Neuhauser EBD. New concept of the etiology, diagnosis and treatment of congenital megacolon. Pediatrics 1949, 4:201-209.2     Duhamel B. Une nouvelle operation pour le megacolon congenital.L’abaissement retrorectal et transanal du colon et son application possible au traitement de quelques autres malformations. Presse Med 1956,64: 22492250.3     Soave F. A new surgical technic for treatment of Hirschsprung disease. Surgery 1964,56: 1007-1014.4     Hedlund H. Posterior sagittal resection for rectal aganlionosis: preliminary results of a new approach. J Pediatr Surg 1997,32: 1717-17205     Shankar KR, Losty PD, Lamont GL, et al. Transanal endorectal coloanal surgery for Hirschsprung disease: experience in two centers. J Pediatr Surg 2000;35: 1209-1213.6     Georgeson KE, Cohen RD, Hebra A, et al. Primary laparoscopic-assisted endorectal colon pull-through for Hirschsprung’s disease: a new gold standard. Ann Surg 1999, 229: 678-682.7     De Langausie P, Berrebie D, Geib G, et all. Laparoscopic Duhamel procedure. Management of 30 cases. Surg Endosc 1999, 13: 972-974.8     Moog R, Becmeur F, Kaufmann-Chevalier, et al. Minimally invasive surgery in the treatment of Hirschsprung disease. Ann Chir 2001, 126: 756-761

 
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 16:44 )  

Highlight module

Sample Images
Eros magna erat ut, id libo pede in a. Qam dolor in nil eleifend, ve scelerisque. Donec vestibulum sed, vel donec. Et id, duis sit arcu. Amet adipiscing tus maas imperdiet.

About us

Sample Images
Eros magna erat ut, id libo pede in a. Qam dolor in nil eleifend, ve scelerisque. Donec vestibulum sed, vel donec. Et id, duis sit arcu. Amet adipiscing tus maas imperdiet.
You are here: Home KỸ THUẬT MỔ Phẫu thuật nội soi Phẫu thuật nội soi - Chữa bệnh phình đại tràng bẩm sinh

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều